Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Cập nhật lúc 23:44, Thứ Tư, 30/08/2017 (GMT+7)

Ngày 15-8, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố bản “Phúc trình thường niên 2016 về tự do tôn giáo thế giới”. Ở phần viết về Việt Nam, tuy có điều chỉnh so với những năm trước nhưng bản phúc trình vẫn thể hiện sự kỳ thị và thiếu khách quan về tình hình thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Đáng nói, những thế lực chống phá Nhà nước Việt Nam đã lợi dụng nhận xét này để xuyên tạc bản chất chế độ cũng như tình hình chính trị trong nước.

* Pháp luật Việt Nam không trái với tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền

Trong thực tế, Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Về tín ngưỡng, Việt Nam có các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ mẫu, thờ sinh thực khí, thờ thánh thần, tổ nghề… Cả nước hiện có 38 tổ chức tôn giáo với trên 24 triệu tín đồ, khoảng 26 ngàn cơ sở thờ tự và 80 ngàn chức sắc. Trong đó, có những tôn giáo du nhập vào từ hàng ngàn năm nay như Phật giáo, Hồi giáo (Chăm Islam); có lịch sử vài trăm năm như Công giáo, cũng có tôn giáo ra đời mới chỉ vài chục năm như Cao Đài, Hòa Hảo... Khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng.

Trong xã hội, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn sôi động. Bình quân mỗi năm cả nước khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức ở cấp quốc gia và địa phương.

Chỉ cần nhìn “biển người” vui chơi, hành hương trong dịp lễ Noel, Phật đản, ngày rằm lớn hoặc chứng kiến dòng người đông nườm nượp dự lễ giỗ Tổ Hùng Vương (tỉnh Phú Thọ), lễ hội Bà Chúa Xứ (tỉnh An Giang), lễ hội Thiên Y A Na (tỉnh Khánh Hòa)… là có thể hình dung đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú ở Việt Nam từ Bắc đến Nam.

Các cơ sở thờ tự, tín ngưỡng, tôn giáo cũng phát triển qua hàng năm. Chỉ riêng ở Đồng Nai, trong vòng 9 năm đã tăng 45 giáo xứ, 168 vị linh mục giáo phận, 151.775 giáo dân; trong vòng 22 năm số tăng ni Phật giáo tăng gấp 10 lần, tăng 2.017 tự viện.

Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã quy định rõ về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: “Mọi công dân Việt có quyền tự do tín ngưỡng” (chương II, mục B). Quy định này hoàn toàn phù hợp với Điều 18 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc: “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo”.

Các Hiến pháp của nước ta sau đó, từ Hiến pháp  1959, 1980, 1992 cho đến Hiến pháp 2013, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam đều được Nhà nước tôn trọng, bảo đảm và ngày càng mở rộng.

Quan điểm xuyên suốt của Đảng từ khi thành lập đến nay cũng thể hiện sự tôn trọng tinh thần tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Chỉ thị của Thường vụ Trung ương về vấn đề thành lập Hội Phản đế Đồng Minh ngày 18-11-1930 nêu: “... phải lãnh đạo từng tập thể sinh hoạt hay tập đoàn của nhân dân gia nhập một tổ chức cách mạng, để dần dần cách mạng hóa quần chúng và đảm bảo tự do tín ngưỡng của quần chúng”.

Phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945 đưa ra 6 nhiệm vụ của Nhà nước mới, trong đó có nhiệm vụ: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Tiếp đó, ngày 14-6-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 234 ban hành chính sách tôn giáo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong đó ghi rõ: “Việc tự do tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền Dân chủ cộng hòa luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện”.

Quan điểm này cũng được thể hiện tại văn kiện Đại hội VII của Đảng, năm 1991 như sau: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập dân tộc và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”;

Đại hội XI của Đảng, năm 2011 cũng nhấn mạnh: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

* Tự do phải trong khuôn khổ của pháp luật

Nhận xét về chính sách, pháp luật Việt Nam trên lĩnh vực tôn giáo, bản phúc trình của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ viết: “Hiến pháp Việt Nam quy định tự do tín ngưỡng và tự do thờ phượng theo đức tin là quyền mà người dân được hưởng. Thế nhưng luật hiện hành với những điều khoản mơ hồ lại cho Nhà nước rộng quyền hơn trong việc kiểm soát mọi sinh hoạt tôn giáo dưới danh nghĩa gọi là bảo vệ an ninh quốc gia và duy trì đoàn kết dân tộc… Việt Nam vẫn là một quốc gia mà tôn giáo nằm dưới sự chi phối của chính phủ, phải được chính phủ công nhận tư cách pháp nhân và pháp lý thì mới được sinh hoạt…”.

Năm 2016 Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. So với các quy định của pháp luật trước đây, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có 15 điểm mới nhằm bảo đảm tốt hơn quyền của công dân và của mọi người. Cụ thể, quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo được mở rộng thành “quyền của mọi người” chứ không riêng của công dân Việt Nam.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam cũng nêu rõ: “Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo…”.

Luật cũng khắc phục những bất cập, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo; cải cách hành chính, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước nhằm tạo sự thông thoáng, minh bạch; tạo cơ chế pháp lý đầy đủ cho các tôn giáo hoạt động.

Cần nhớ, Điều 24 của Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật...”.

Như vậy, những quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam hoàn toàn tương thích với Hiến pháp 2013 và luật quốc tế về quyền con người. Điều 29 Tuyên ngôn nhân quyền quy định: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.

Tương tự, Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Như vậy, không thể có chuyện một quốc gia nào cho phép tôn giáo hoạt động mà hoàn toàn không có sự kiểm soát. Bởi, bên cạnh việc lợi dụng tín ngưỡng để diễn ra các hoạt động mê tín dị đoan, như: xin xăm, bói toán, lễ hội cầu lợi... trong thực tế vẫn có tình trạng lợi dụng tôn giáo để xuất hiện các tà đạo, các đạo lạ; hoặc hoạt động các tôn giáo chưa được phép.

Vừa qua, một số cá nhân, nhóm tôn giáo trong nước đã có những hoạt động gây rối trật tự công cộng, kích động người dân chống phá chế độ đã bị các cơ quan chức năng xử lý, như: bắt giữ Hoàng Đức Bình, nhắc nhở một số linh mục đã kích động người dân ở Nghệ An biểu tình chặn xe gây rối ở quốc lộ 1; phạt vi phạm hành chính một linh mục ở Đồng Nai vì thiết lập, sử dụng trang thông tin cá nhân thông qua dịch vụ mạng xã hội Facebook để cung cấp, lưu trữ, truyền đưa những thông tin chống Nhà nước. Việc này được thực hiện đúng theo luật pháp, bởi những cá nhân này đã vi phạm pháp luật chứ không phải vì lý do tôn giáo. Không một quốc gia nào có thể làm ngơ trước việc lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống phá chế độ. Không lợi ích cá nhân nào được xếp cao hơn lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội hay vượt qua pháp luật.

Tịnh Hà

.
.
;
.
.