Kỷ niệm 70 năm thành lập Chiến khu Đ và 55 năm Trung ương cục miền Nam:

Quyết tâm đánh giặc đến cùng

Cập nhật lúc 22:30, Chủ Nhật, 18/12/2016 (GMT+7)

TIN LIÊN QUAN
Không chỉ chiến đấu chống lại cái đói, sự khắc nghiệt của vùng đất Mã Đà mà cán bộ, chiến sĩ ta trong những năm tháng kháng chiến ở rừng Chiến khu Đ còn phải đối mặt với hy sinh trước những trận càn quét, đánh trả ác liệt của địch.

Ông Nguyễn Minh Tân (phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa), nguyên cán bộ Ban Thông tin Khu ủy miền Đông kể về những người đồng chí gắn bó một thời ở rừng Chiến khu Đ cho các cháu nội, cháu ngoại nghe.
Ông Nguyễn Minh Tân (phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa), nguyên cán bộ Ban Thông tin Khu ủy miền Đông kể về những người đồng chí gắn bó một thời ở rừng Chiến khu Đ cho các cháu nội, cháu ngoại nghe.

Với ông Huỳnh Công Trạch (thường gọi là Năm Trạch), nguyên Phó ban Cơ yếu Khu ủy miền Đông (hiện ở phường Bửu Long, TP. Biên Hòa), kỷ niệm ở Chiến khu Đ không đơn thuần là những cuộc hành quân, đi đào củ chụp chống đói... mà còn là những lần giáp mặt với lính Mỹ.

Vượt qua khó khăn, ác liệt

Theo lời kể của ông Năm Trạch, trong suốt thời gian tham gia kháng chiến, ông có đến 3-4 lần giáp mặt với lính Mỹ nhưng đều thoát khỏi nguy hiểm, nhưng lần giáp mặt mà ông nhớ nhất là vào khoảng cuối năm 1961. Khi đó, ông là Trưởng tiểu ban mã dịch thuộc Ban cơ yếu của Khu ủy miền Đông. Ông kể, sau nhiều năm lăn lộn với núi rừng, bộ quần áo quân phục của ông rách không thể rách hơn. Thấy vậy, anh em trong đơn vị đưa cho ông bộ đồ, giày của lính Mỹ dùng tạm trong thời gian chờ cấp quần áo mới. Ngay sau đó, ông và 2 đồng chí khác trên đường đi làm nhiệm vụ, lúc trời tối thì dừng chân lại ven suối để ngủ. Vừa móc võng xong thì phát hiện bên kia suối mấy tên lính Mỹ đang nói chuyện. Mặc dù chỉ cách mấy tên lính Mỹ một con suối, nhưng hôm đó các ông được ngủ một giấc ngon lành. 5 giờ sáng, ông và đồng đội lên đường đến căn cứ Sông Phan (địa bàn mới bị địch tấn công) thì thấy khoảng 10 tên lính Mỹ ở đó. Ông ra hiệu rút lui, nhưng không ngờ trên đường rút các ông lại gặp một toán lính Mỹ khác. Thấy ông mặc đồ lính Mỹ, ban đầu địch chưa động thái gì nhưng khi nhìn thấy 2 người đi cùng mặc đồ bộ đội nên địch sinh nghi. Các ông tìm cách thoát thân, thì lính Mỹ nổ súng khiến một đồng chí bị thương nhưng may mắn là cả 3 người cùng thoát chết.

Bà Phạm Thị Ánh (hiện ở phường Trảng Dài, TP. Biên Hòa) xúc động mỗi lần cầm trên tay tấm bằng Tổ quốc ghi công của người con gái út Nguyễn Thị Hòa.
Bà Phạm Thị Ánh (hiện ở phường Trảng Dài, TP. Biên Hòa) xúc động mỗi lần cầm trên tay tấm bằng Tổ quốc ghi công của người con gái út Nguyễn Thị Hòa.

Cuộc kháng chiến ngày càng ác liệt. Theo lời kể của các nhân chứng lịch sử cũng như lịch sử ghi chép lại, ác liệt nhất là giai đoạn từ năm 1961-1968 khi đế quốc Mỹ mở nhiều cuộc càn quét nhằm tiêu diệt sinh lực của ta.

Ông Nguyễn Minh Tân (thường gọi là Hai Tân) hiện ở phường Quang Vinh (TP.Biên Hòa) cũng có khoảng 10 năm gắn bó với Chiến khu Đ. Nơi đây, ông có rất nhiều kỷ niệm với những người đồng đội “tình sâu nghĩa nặng”. Ông còn nhớ ngày 10-3-1966 (thời điểm đế quốc Mỹ mở cuộc càn thứ 2 trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất mang tên Thành phố bạc (Silver City) vào căn cứ miền Đông đầu năm 1966 nhằm tìm và phá hủy cơ sở cách mạng), anh chị em ở căn cứ đang tập trung trong bếp nấu nướng, chuẩn bị tổ chức Ngày Quốc tế phụ nữ (8-3) thì bị Mỹ đánh bom B52 phủ lên căn cứ. Lúc ấy, ông đếm được khoảng 8 đợt ném bom. Lần đó, có 7 anh chị em bị thương, trong đó có 2 người bị nặng nhất đã hy sinh.

Thất bại sau cuộc tiến công và nổi dậy năm 1968 của quân và dân miền Nam, đế quốc Mỹ phải chuyển từ chiến lược “Chiến tranh cục bộ” sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Với các thủ đoạn: đưa tình báo trà trộn trong dân để theo dõi, đánh phá cơ sở cách mạng của ta; phục kích ban đêm trên các tuyến đường vào ấp chiến lược hoặc ra căn cứ; dụ dỗ, lừa mị buộc nhân dân tham gia vào những tổ chức phản động; thường xuyên lục soát, thu gom gạo của dân; đặt trạm kiểm soát ngăn chặn hàng hóa từ vùng tạm chiếm lọt ra căn cứ... Từ đó, Mỹ dần chiếm lại một số vùng giải phóng của ta.

Tình hình chiến khu ngày càng khó khăn, ác liệt hơn, nhất là từ năm 1969-1971, không ngày nào máy bay B52 của Mỹ không trút bom xuống Chiến khu Đ. Địch sử dụng triệt để các loại chất độc hóa học làm rụi lá cây, gây khó khăn cho hoạt động của ta.

Đảm bảo cách mạng đi đến thắng lợi

Ông Hai Tân chia sẻ, ký ức còn in đậm trong trí nhớ của ông không chỉ là những trận bom, mà cho đến phút cuối cùng, khi cái chết đã cận kề, anh em đồng đội vẫn một lòng sắt son với Đảng với Bác Hồ. Ông kể, trong 2 người hy sinh tại căn cứ vào năm 1966 có ông Phạm Văn Xem (cùng quê Bình Dương với ông). Trước khi tắt thở, ông Xem còn nói: “Vết thương tôi quá nặng, anh em hãy để bông băng băng bó cho anh em khác. Tiền đảng phí tháng 3 tôi chưa kịp đóng, mai mốt có tiền sinh hoạt phí, nhờ anh em lãnh đóng giùm tôi”.

Nói thêm về thời kỳ đế quốc Mỹ sử dụng bom, chất độc hóa học, ông Hai Tân cho biết thời điểm ấy có thể nói cách mạng trong giai đoạn cực kỳ khó khăn. Những cánh rừng nhiệt đới rậm rạp trước đây chỉ còn trơ lại những thân cây khiến cho địa hình ở Chiến khu Đ trở nên trống trải. Mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ đều phải chuyển xuống hầm được che chắn bằng gỗ chắc và cây khô để tránh các loại đạn pháo của địch. Công tác vận chuyển lương thực, thực phẩm gặp nhiều khó khăn khi địch trang bị dày đặc những máy dò tiếng động, các loại mìn bẫy. Lực lượng cách mạng thiếu đói nghiêm trọng.

Có thể nói, thời điểm ấy một hạt gạo trong chiến khu phải đổi bằng mồ hôi, xương máu của cán bộ, chiến sĩ. Trước khi tiếp xúc được với dân, lương thực chủ yếu của cán bộ, chiến sĩ là củ nần, củ chụp, rau tàu bay, lá bép... Có thời điểm cán bộ, chiến sĩ ăn toàn đậu nành, ai nấy đều bị đi ngoài liên tục. Khó khăn vất vả là thế nhưng cán bộ, chiến sĩ trên dưới đều một lòng đánh giặc và tìm cách phục hồi lại chiến khu. Theo lời kể của ông Hai Tân, sau năm 1973 khi Hiệp định Paris ký kết, vùng giải phóng mở rộng, cán bộ, cách mạng được tiếp xúc với dân, hoạt động tăng gia sản xuất tạo nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ cách mạng phát triển khá mạnh. Riêng Ban thông tin Khu ủy miền Đông - nơi ông công tác có 7 hécta rẫy trồng bắp, sắn, lúa, chăn nuôi heo, gà... có thể cung cấp nhu cầu sử dụng trong 6 tháng liên tục của ban.

Vết thương trên cơ thể sẽ liền lại, khó khăn về vật chất có thể khắc phục theo thời gian nhưng nỗi đau về tinh thần là điều dường như khó vượt qua nhất. Thế nhưng vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, có những cán bộ, chiến sĩ chôn giấu niềm đau mất đi đồng đội, người thân để tiếp tục hoạt động, phục vụ cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng.

Câu chuyện về cuộc hôn nhân hạnh phúc của bà Phạm Thị Ánh (phường Trảng Dài, TP.Biên Hòa) và ông Nguyễn Ngọc Tân (tên khác là Huỳnh Chí Mạnh, thường gọi là Hai Lực), nguyên Bí thư Khu ủy miền Đông (đã mất) với 5 người con tại Chiến khu Đ đang hấp dẫn, bà Ánh bỗng dừng lại khi nhắc đến người con gái út của mình. Bà kể, ông bà cưới nhau từ năm 1952, bà từng được đào tạo trong ngành y nên được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho các đồng chí cán bộ tại căn cứ.

Sau ngày cưới, bà sinh liên tục 5 người con. Vì nhiệm vụ, ông Hai Lực đi suốt nên việc chăm sóc 5 người con đều do một tay bà. Cuộc kháng chiến ngày càng ác liệt nên Nhà nước đưa 2 người con lớn của bà ra Bắc sinh sống và đi học. Năm 1970, trong lúc 3 người con ở lại cùng bà đang học tại Trường Nguyễn Văn Trỗi (trường dạy con em cán bộ trong chiến khu) thì bom B52 của Mỹ thả trúng lớp học của người con gái út khiến cho 18 học sinh bị thương và 12 học sinh hy sinh, trong đó có người con gái út của bà tên là Nguyễn Thị Hòa (8 tuổi). Nhìn đứa con gái bé nhỏ hy sinh ngay trước mặt, với bà không nỗi đau nào đau đớn hơn. Sau khi sự việc xảy ra, 2 người con còn lại của bà tiếp tục được Nhà nước đưa ra miền Bắc để đảm bảo an toàn. Vừa mất con, lại phải xa 4 người con còn lại, bà như muốn quỵ xuống. Nhưng nghe chồng là ông Hai Lực động viên, bản thân bà nhận thấy nếu không vững vàng và quyết tâm chiến đấu thì sẽ còn rất nhiều người mẹ chịu cảnh mất con nên bà dần nguôi ngoai và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chăm sóc cán bộ tại căn cứ Chiến khu Đ cho đến ngày giải phóng miền Nam.

Nga Sơn

.
.
;
.
.