Người nước ngoài có được sở hữu nhà ở tại Việt Nam?

Cập nhật lúc 21:36, Thứ Năm, 01/10/2020 (GMT+7)

* Ông Huỳnh Hải (ngụ xã Trà Cổ, H.Trảng Bom) thắc mắc: “Người nước ngoài có được sở hữu nhà ở (SHNO) tại Việt Nam và điều kiện được công nhận quyền SHNO như thế nào?

- Ông Lê Quang Vinh, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh (Sở Tư pháp) cho biết, Luật Nhà ở năm 2019 quy định,  đối tượng được SHNO tại Việt Nam gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại Khoản 1, Điều 159, luật này.

“Khoản 1, Điều 159 quy định tổ chức, cá nhân nước ngoài được SHNO tại Việt Nam bao gồm: tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài). Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam” - ông Vinh hướng dẫn.

Cũng theo ông Vinh, Luật Nhà ở năm 2019 quy định điều kiện được công nhận quyền SHNO như sau: đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam. Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện quy định tại Điều 160 của luật này.

Ông Vinh lưu ý, Khoản 2, Điều 159, Luật Nhà ở năm 2019 quy định tổ chức, cá nhân nước ngoài được SHNO tại Việt Nam thông qua các hình thức sau đây: đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan. Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.

Điều 160, Luật Nhà ở năm 2019 cũng quy định về điều kiện tổ chức, cá nhân nước ngoài được SHNO tại Việt Nam như sau: đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 159 của luật này thì phải có giấy chứng nhận đầu tư và có nhà ở được xây dựng trong dự án theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan.  Đối với tổ chức nước ngoài quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 159 của luật này thì phải có giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ liên quan đến việc được phép hoạt động tại Việt Nam do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Đối với cá nhân nước ngoài quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 159 của luật này thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật.

Diễm Quỳnh (ghi)

.
.
;
.
.